Ly thân, theo Giáo Luật, được hiểu không c̣n sống chung như vợ chồng nhưng dây hôn phối vẫn c̣n. (đ. 1151-1155). Ly dị ṭa án dân sự được hiểu là cắt bỏ dây ràng buộc hôn phối theo luật pháp quốc gia. Tuy nhiên, cho dù dây ràng buộc hôn phối đă được cắt bỏ đó vẫn c̣n tồn tại trong sự chi phối của Giáo Luật.
Nếu ly dị mà đă tiến tới một hôn nhân khác, th́ người đó ở trong t́nh trạng
được gọi là ly dị tái hôn.
1. Chỉ bị
phạt khi có luật phạt hoặc bị tuyên bố hay tuyên kết một h́nh phạt
Khi cố ư đưa ra ṭa án dân sự để ly dị, tín hữu phạm tội nặng, theo cái nh́n
khách quan, nghĩa là, khi vi phạm một lệnh cấm hay một điều luật th́ phạm
nhân có tội. Nhưng khi có tội, cho dù là tội trọng, không đương nhiên là bị
chế tài, nghĩa là không đương nhiên là bị phạt vạ. Chỉ khi nào có luật phổ
quát hay địa phương áp đặt h́nh phạt th́ phạm nhân mới bị phạt (vạ tiền
kết). Ngoài ra, phạm nhân cũng bị phạt do Đấng Bản Quyền địa phương hay ṭa
án tuyên bố hay tuyên kết h́nh phạt (vạ hậu kết).
2. Được rước
lễ theo nguyên tắc chung của bộ Giáo Luật
Theo quy tắc chung của bộ Giáo Luật 1983, th́ người Công Giáo không được
phép ly dị, nhưng chỉ được phép ly thân khi có lư do (đ. 1151-1155).
Tuy nhiên, bộ Giáo Luật 1983 không áp đặt một h́nh phạt nào cho người ly dị
dù họ có cố t́nh hay không . V́ vậy họ vẫn được rước lễ, nếu họ đă ăn năn
thống hối và đi xưng tội (đ. 916). Chỉ khi họ ly dị tái hôn th́ họ mới bị
cấm rước lễ, chiếu theo quy định của điều 915.
Điều này cũng được xác nhận bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi trả lời phỏng
vấn trên chuyến bay từ Rio đến Roma năm 2013. Ngài nói: “Tôi nghĩ là thời
đại của ḷng thương xót đă đến, như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo đệ nhị đă
tiên đoán bằng việc thiết lập lễ Ḷng Chúa Thương Xót. Những người ly dị
được phép rước lễ, chính những người ly dị và tái hôn mới không được phép. Ở
đây tôi muốn nói thêm rằng Chính Thống Giáo theo thần học cứu độ và cho phép
hôn nhân thứ hai. Khi ủy ban 8 vị hồng y họp vào đầu tháng 10 chũng tôi sẽ
thảo luận là sẽ tiến hành như thế nào. Giáo Hội rất quan tâm đến những sáng
kiến mục vụ hôn nhân. Vị tiền nhiệm của tôi ở Buenos Aires, Hồng y
Quarracino vẫn thường hay nói: ‘Tôi thấy rằng phân nữa các đôi hôn phối ngày
nay là vô hiệu bởi v́ người ta kết hôn mà không nhận thức nó là vĩnh viễn.
Họ kết hôn v́ lợi ích, vân vân…’ Vấn đề vô hiệu cũng cần phải được xem xét”.
Chúng ta biết một tội trọng h́nh thành khi phạm nhân cố t́nh và có suy biết
tỏ tường. V́ vậy, ngay cả khi ra ṭa án dân sự để ly dị, trong một số hoàn
cảnh khó khăn không thể thoát ra, đương sự cũng có thể không mắc tội nào cả.
Giáo lư Công Giáo c̣n dạy rằng: “Nếu sự ly dị ṭa đời là cách duy nhất để
bảo đảm một số quyền lợi chính đáng, để lo cho các con hoặc để bảo vệ di
sản, th́ có thể được dung thứ và không tạo thành một lỗi phạm nào về luân
lư”. (GLCG 2383; xem GL 1151-1155).
Do đó, có những trường hợp, do hoàn cảnh hầu như bắt buộc phải ly dị, th́
không bị mắc tội, với một trong những lư do sau đây: 1- bảo đảm một số quyền
lợi chính đáng; 2- để lo cho các con; 3- để bảo vệ di sản.
3. Không
được xưng tội rước lễ là do luật riêng của Giáo Hội địa phương
Ở Việt Nam, trong nhiều Giáo phận, vẫn c̣n phạt, không những cấm rước lễ mà
c̣n cấm cả xưng tội hoặc cấm lănh nhận các bí tích, đối với người nào cố
t́nh ly dị ṭa án dân sự hoặc kư đơn ly dị. Sở dĩ có như vậy là do Giáo Phận
đó đă có một luật riêng do Đức Giám Mục Giáo Phận ban hành hoặc do một lệ
nào đó có từ xưa.
Việc chuẩn nhận một tục lệ hay thiết lập một luật h́nh sự riêng cho giáo
phận thuộc quyền Giám Mục giáo phận v́ ngài có quyền lập pháp, theo quy tắc
của điều 1315#1:
Người nào có quyền lập pháp cũng có thể ban hành những luật h́nh sự, nhưng
cũng có thể dùng luật của ḿnh để thêm một h́nh phạt thích đáng vào một luật
của Thiên Chúa hay một luật của Giáo Hội do một nhà chức trách cấp trên ban
hành, miễn là vẫn tôn trọng các giới hạn của thẩm quyền đối địa hay đối nhân
của ḿnh.
Tuy nhiên, Giáo Luật cũng quy định thêm: “Chỉ nên thiết lập các h́nh phạt
theo mức độ thực sự cần thiết để hỗ trợ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp
hơn. tuy nhiên, luật địa phương không thể thiết lập h́nh phạt sa thải khỏi
bậc giáo sĩ.” (đ. 1317).
4. Có cần thay đổi luật địa phương cho phù hợp với luật chung không?
V́ hoàn cảnh đặc thù của từng địa phương, Giám Mục thấy cần thiết để hổ trợ
kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp hơn (đ. 1315#1) th́ ngài có thể ban hành
những luật h́nh sự. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng khuyên:
Nhà lập pháp đừng dùng những h́nh phạt tiền kết để ngăm đe, trừ khi một vài
tội phạm đặc biệt cố t́nh phạm có thể gây ra một gương xấu nặng hơn hoặc
những h́nh phạt hậu kết không thể trừng phạt những tội phạm đó cách hữu
hiệu; tuy nhiên, chỉ nên thiết lập các vạ, nhất là vạ tuyệt thông, một cách
hết sức hạn chế và chỉ áp dụng cho những tội phạm rất nặng (đ. 1318).
Vạ cấm xưng tội rước lễ đối với người ly dị là một vạ tiền kết. Tuy nó không
phải là vạ tuyệt thông theo đúng nghĩa, nhưng đối với giáo dân, bị cấm xưng
tội rước lễ cũng được coi như là bị vạ tuyệt thông. Bởi v́, những điều cấm
c̣n lại của vạ tuyệt thông, như ban các bí tích, thi hành giáo vụ, thực hiện
hành vi lănh đạo th́ lại thuộc về các vị có chức thánh, không thuộc quyền
giáo dân. Theo điều 1318, việc ra một vạ tuyệt thông th́ phải hết sức hạn
chế và chỉ áp dụng cho những tội phạm rất nặng.
Trong thực tế, người mà cố t́nh ly dị th́ thường có ba trường hợp chính:
- Chủ động
ly dị để tái hôn. Rơ ràng trường hợp này là tội nặng. Tuy nhiên Giáo Luật
cũng chỉ phạt cấm rước lễ, v́ ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường (đ.
915) chứ không bị vạ cấm chế hay vạ tuyệt thông.
- Chủ
động ly dị là v́ để bảo vệ quyền lợi. Trong trường hợp này họ có thể không
mắc tội, như sách GLCG chỉ dạy: “Nếu sự ly dị ṭa đời là cách duy nhất để
bảo đảm một số quyền lợi chính đáng, để lo cho các con hoặc để bảo vệ di
sản, th́ có thể được dung thứ và không tạo thành một lỗi phạm nào về luân
lư”. (GLCG 2383; xem GL 1151-1155). Nếu trong t́nh trạng không mắc tội mà
bị phạt th́ quả là trái với điều chỉ dạy của Giáo Hội trong sách GLCG.
- Bị ly dị
do áp lực của bên chủ động ly dị. Tất nhiên trong trường hợp này họ không có
tội nặng hoặc chỉ có tội nhẹ do bị áp lực. Họ cũng không đáng bị phạt.
V́ vậy, thiết nghĩ nên loại bỏ h́nh phạt cấm xưng tội rước lễ cho người ly dị. Loại bỏ là để phù hợp hơn với tinh thần của Công Đồng, chứ không có nghĩa là buông lỏng hay cho phép ly dị dân sự. Đây chỉ là v́ lợi ích của tín hữu, để cho ṭa lương tâm, hay ṭa trong của họ làm việc, nghĩa là để cho phạm nhân suy xét phán đoán về việc làm hay phạm tội và chịu trách nhiệm trước mặt Chúa.
Nếu Đấng Bản Quyền thấy cần thiết phải duy tŕ luật phạt đă có từ trước
trong một địa phương th́ ngài vẫn không hủy bỏ nó. Tuy nhiên, ngài cũng có
quyền tha tội và tha phạt khi phạm nhân xin tha thứ, ngay cả có quyền cho
phép đưa vụ ly thân ra ṭa án dân sự.
Trong một số trường hợp, nếu họ có đủ lư do theo Giáo luật để được ly thân,
như bên kia phạm tội ngoại t́nh hay bị bách hại về thể xác hay tinh thần (đ.
1152, 1153) th́ Đức Giám Mục giáo phận có thể cho họ ly thân. Và nếu hoàn
cảnh riêng biệt của họ đ̣i hỏi th́ Đức Giám Mục cũng có quyền cho phép họ
đưa vụ ly thân ra ṭa án dân sự để hủy bỏ hiệu lực thuần túy dân sự của mối
quan hệ vợ chồng (đ. 1692). Ví dụ người vợ có quyền xin ly thân khi chồng
ngoại t́nh và có thể được Đức GIám Mục cho phép ly thân. Và nếu sự ly dị dân
sự là cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho ḿnh hay cho con cái th́ Đức Giám
Mục có thể cho phép người đó đưa vụ ly thân ra ṭa án dân sự.
Đức Giám Mục tự ḿnh hay có thể ủy quyền cho một linh mục lo việc cứu xét và
chấp thuận các đơn xin.
Nên chú ư: Giáo Luật không nói Giám Mục “cho phép ly dị dân sự”, nhưng là
cho phép những người ly thân được “nại đến ṭa án dân sự”. Hay nói cách
khác, “cho phép đưa vụ ly thân ra ṭa án dân sự”.
5. Giới hạn
của bài viết
Cũng xin minh định rằng, bài viết chỉ là luận giải pháp lư và đề nghị, không
đưa ra một luật để áp dụng chung. Các tín hữu trong một giáo phận phải tuân
theo những chỉ dẫn và luật lệ của Giáo Hội địa phương.
Nha Trang, 6-1-2016
Lm JB
Lê Ngọc Dũng
Giaoluatconggiao.com